Make your own free website on Tripod.com

Trang HC11

Sáng tác

Home
Sáng tác
Tho
Tin-tuc trong làng
Đoi ngoai
Trang Album h́nh
Hop tho Y kien
Liên-lac
Archives
Tai` lieu
Mục Sáng tác gồm những bài hồi-ức, cảm-tưởng, văn thơ về thời sinh-viên , đời công-vụ và hệ-lụy sau đó,...
 
Khởi đầu là bài của Nguyên Trẩn, gởi về Trang HC11 ngày 19/7/04;
Tiếp theo la` bài cũa Thọ X́ phé tức Thọ Râu, do Thành chuyển về Trang HC11 ngày 15/8/04;
 
 

    TẢN  MẠN  KHÓA  11

        Hoi-ưc cua Nguyen Tran
 

           

Viết về chuyện đời xưa đă hơn 40 năm lại cộng thêm cái trí nhớ cĩ hơi hẹp bề khổ của tơi nên thưa trước cùng các bạn là nhớ đến đâu viết đến đấy, nhớ bậy th́ viết bậy cho nên lẽ dĩ nhiên cĩ nhiều  sơ xuất , chỉ xin các bạn qua t́nh đồng mơn gắn bĩ mà đánh cho 2 chữ đại xá. Thiện tai! Thiện tai!

            Khĩa 11 HVQGHC được tổ chức thi tuyển trong 3 ngày vào tháng 7 năm 1963 với tổng số thí sinh gần 4000 ( theo lời anh Chu vũ Lộc, chánh sự vụ Sở Hành Chánh Học Viện) mà chỉ chọn cĩ 100. Như vậy mỗi chúng ta phải đánh bại gần 3900 thí sinh khác để đặt chân vào ngưỡng cửa Học Viện, mt  tỷ lệ mà khơng cĩ một kỳ thi concours nào tại Việt Nam sánh bằng. Chỉ nghe thấy con số thơi mà đă nhức đầu rồi. Hĩa ra thiên hạ nhiều người khối làm quan quá. Nhưng thơi cứ thi đại đi, cĩ chết ai đâu mà lo. Vả lại , tơi cịn cĩ lớp Đại học Sư Phạm back up kia mà.

Chương tŕnh thi cĩ nhiều mơn nhưng chính yếu nhất là 3 mơn:

            -B́nh luận ( hệ số 4)

            -Sử kư ( hệ số 3)

            -Địa lư ( hệ số 3)

 Trước ngày thi, ai cũng chạy t́m những tài liệu lư thuyết liên quan đến chính sách quốc gia để mà “ gạo”. Đặc biệt lúc bấy giờ thuyết Nhân vị của ơng cố vấn Ngơ đ́mh Nhu là mode thời thượng nhất nên tơi phải t́m gặp cơ giáo cũ của tơi hồi Mỹ Tho là cơ Lư Hoa ( khĩa 2 HVQGHC) đang là Tổng Thanh tra Tài Chánh Bộ Tài Chánh để xin tài liệu. Mới liếc sơ qua một chút là tơi thấy nhợn cơ quá cỡ thợ mộc luơn. Thú thực là đọc truyện kiếm hiệp th́ tơi khối chứ cịn ba cái cơng thức:

            Tam túc + Tam giác + Tam nhân = Nhân vị

Sao mà nĩ nhức đầu thí mồ đi. Nhưng mà muốn “ làm quan” th́ phải chịu cực khổ lúc này chứ ai người ta lĩt đường mà dâng cho à. Thơi th́ cũng cố nhét vào cái đầu vốn đă bị overload với bao nhiêu là “ h́nh bĩng người dưng.”
Sau cùng rồi cái ngày “ trả nợ lều chổng “ nĩ cũng sồng xộc đến. Bài b́nh luận nặng kư nhất là đề tài: B́nh giảng câu nĩi Đức Khổng Tử “ Kỳ thân chính bất lệnh nhi hành, kỳ thân bất chính tuy lệnh bất hành”

            Riêng bài Sử kư th́ tựa là: “ Những ưu khuyết điểm của chế độ tiền tệ dưới thời Hồ Quư Ly.”

            Cịn đề Địa lư: “ Vai trị của nơng nghiệp trong cơng cuộc phát triển nền kinh tế Việt Nam.”

            Sau phần thi viết xong cịn cĩ cái màn thi thể lực tại sân Cộng Hịa cho các nam thí sinh ( mấy bà rốt cuộc th́ cũng sướng quá trời). Chắc cĩ lẽ Ngơ Tổng Thống muốn cơng bộc quốc gia phải cĩ “ một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”.

            Sau cuộc thi concours trầy vi trĩc vảy, 100 thí sinh may mắn được trúng tuyển, trong số nấy cĩ 5 nữ sinh viên. Người đứng đầu là bạn Phan thế Dinh, quê quán Cần Thơ và người sát nút 100( cái nầy Tây nĩ kêu bằng right on the nose) là bạn Huỳnh Khánh Lâm , người Mỹ Tho.
Lớp học gồm có 2 dăy bàn dài, mỗi dăy có 8 hàng ghế. Và mỗi hàng có 7 sinh viên. Chỗ ngồi được sắp xếp theo thứ tự trúng tuyển. Riêng  ngũ long công chúa được ưu tiên ( lại sướng nữa rồi) xếp ngồi hàng đầu dăy tay mặt, đúng theo vị trí danh dự của protocol. Tôi đứng thứ hạng 20 nên được xếp ngồi ngay sau lưng 5 chị. Cái này đúng là người...gian mắc nạn.

Các bạn biết tại sao không? Số tôi là dân phàm phu tục tử mà lâm vào cảnh nầy th́ có nước chịu chết. Nhất cử nhất động ǵ cũng phải từ tốn  nhẹ nhàng, cười th́ nho nhỏ trong miệng cho ra cái điều gentleman và nhất là không được nói tiếng Đức theo thói quen th́ thiệt là “chiều tím hoàng hôn” quá mất thôi.

            Đă vậy mà cứ nghe giáo sư Vũ Uyển Văn ( thân phụ ca sĩ Công Thành) dạy môn Hành Chánh nhập môn tối ngày cứ Mr Simon này Mr Simon nọ mà cứ bụm miệng không dám cười v́ sợ bàn ở trên người ta quay xuống cự nự th́ thiệt là chết sướng hơn
 Giáo sư Nguyễn thị  Huệ dạy mơn Xă Hội Học với những danh từ lạ tai như tự tử biến tắc ( norm suicide), nhĩm thiếu nhi phạm pháp ( delinquency ), du đảng ( hooligan ) ... Chữ hooligan sau này báo chí thường dùng để chỉ đám English soccer fans quá khích.

            Giáo sư Vương văn Bắc ( cựu Tổng trưởng Ngoại giao) giảng dạy Chính Trị Học với nụ cười nửa miệng khinh đời. Tài ba quá rồi th́ arrogant là chuyện thường t́nh mà thơi.

            Giáo sư Trần văn Đỉnh dạy mơn Soạn thảo cơng văn để các quan huyện tương lai tha hồ mà tập dượt viết các văn thư, thơng cáo, nghị định, quyết định...

            Giáo sư Trần văn Binh dạy mơn Kế Tốn th́ luơn luơn truyền kinh nghiệm cho mơn sinh kỹ thuật “ Đo đá” để sau này khỏi bị Ty Cơng Chánh qua mặt.

            Giáo sư Nguyễn duy Xuân ( Cựu Tổng trưởng Kinh tế) giảng dạy mơn Kinh tế học thật rơ ràng dễ hiểu. Tơi cịn nhớ giọng nĩi ơng sang sảng. Mơn học này địi hỏi sinh viên phải cĩ căn bản tốn học với các bài : chỉ số thị trường, giá trị biên tế... Do đĩ nếu ai mà yếu Tốn th́ kể như “ lội” luơn.

 Giáo sư Nguyễn Khắc Nhân dạy Luật Hành Chánh, Giáo sư Phan thiện Giới dạy Luật Thương Mại, giáo sư Lê văn Thận dạy Luật Hàng Hải... Oâi! Sao mà Việt Nam Cộng Hịa ta cĩ quá nhiều luật.  Thảo nào mà cĩ nhiều vụ tranh chấp pháp lư. Chả bù với tụi Việt Cộng nĩ chỉ cĩ một bộ “ Luật Rừng” thế mà đâu cũng vào đấy, êm thấm cả làng trên xĩm dưới. Cĩ điều là bọn chúng đưa cả nước xuống hố nghèo đĩi vơ lương.

            Sau màn ghi nhớ rất khái lược về cácị giáo sư, giờ th́ xin viết đơi dịng về phe ta. Theo truyền thống lady first, nên xin nĩi về các chị trước.

            Ngũ long cơng chúa của khĩa11 là các chị : Bùi thị Tuyết, Nguyễn Thu Thủy, Trần thị Hồng Hà, Ngơ Vũ Bích Diễm và Hồ thị Lựu. Trong số này chỉ cĩ 2 chị Tuyết và Diễm là chịu câu “ Trâu ta ăn cỏ đồng ta “ cho nên bằng lịng “ nâng khăn siết túi” 2 chàng đồng khĩa là Lê quang Minh và Trần văn Chí mà bàn dân thiên hạ thường gọi là Minh- Tuyết và Chí- Diễm. Riêng chị Diễm th́ nghe người ta đồn rằng chị đă một thời cho nhạc sĩ tài hoa Trịnh Cơng Sơn chết lên chết xuống và cũng từ đĩ bản nhạc nổi tiếng “ Diễm xưa” ra đời. Cịn chị Hồng Hà th́ trước khi ra trường đă là “sinh viên mẹ” rồi nên xin miễn bàn.  Người đẹp Thu Thủy vui duyên cùng anh Lê trọng Kỳ h́nh như là đồng nghiệp sếp của chị tại bộ Kinh Tế. Người cuối cùng là chị Lựu th́ theo tàu Hải quân ra khơi t́nh ái. Trong 5 bơng hoa khĩa 11 th́ hết 4 người định cư tại Mỹ, chỉ riêng chị Hồng Hà cịn ở lại Việt Nam. Hiện nay chị Tuyết, chị Thủy là cịn liên lạc với khĩa , cịn hai chị Diễm nhất là chị Lựu th́ biền biệt nơi mơ, tơi chỉ nghe phong phanh rằng chi Diễm ở Nam Cali và chị Lựu ở San Jose. Xin hai chị “ tung cánh chim t́m về tổ ấm” cho cả khĩa được nhờ tí. Tơi nhớ hồi tập sự chung ở Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện th́ chị Lựu rất vui vẻ hịa ḿnh lắm cơ mà, khơng lẽ vượt biên rồi những đức tính đĩ rớt cả xuống biển Đơng hay sao? Riêng chị Thủy th́ vào năm 2000 chị được tuyên dương là giáo viên xuất sắc nhất nước Mỹ và lúc đĩ, tơi cĩ làm bài thơ ca ngợi chị như sau:
 MÙA THU VỚI GIAI NHÂN

            VINH  quang một thuở chốn quê hương

            DANH  vọng cịn lưu khắp bốn phương

            THU  nhuộm khung trời màu khĩi biếc

            THỦY  in bĩng liễu rũ ven đường

            VẺ  nên đài các hoa ưu tú

            VANG  nét đan thanh đượm sắc hương

            DÂN  bản rạng ngời gương thục nữ

            VIỆT  nam nhớ bạn nhớ sân trường

Riêng về  các bạn nam sinh viên th́ đơng quá làm sao mà kể cho hết. Lại nữa trong bài “ Kỷ yếu khĩa 11” đăng trong tập” Kỷ Yếu Hành  Chánh thế giới” đă ghi ra đầy đủ rồi, nếu tơi cịn viết tiếp ra đây th́ hĩa ra bổn cũ soạn lại chỉ thêm nhàm chán v́ “ biết rồi, khổ lắm, nĩi măi”. Do đĩ , tơi chỉ xin nĩi ra đây những điễm tiêu biểu đặc biệt của một số bạn ta mà thơi..

            Trường ta là trường ăn nĩi, v́ vậy tơi xin đề cập đến lănh vực này trước. Lẽ dĩ nhiên là tất cả chúng ta đều cĩ khả năng nĩi trước đám đơng , nếu khơng th́ làm sao chúng ta “ hành nghề” cho được.  Tuy nhiên , theo ư riêng tơi - chắc chắn là cĩ phần chủ quan rồi – th́ cĩ ba bạn nĩi năng “ lưu thủy” đại diện cho 3 miền quê hương. Ba “nhân sĩ” đĩ là:

            -Nguyễn văn Cường : nhân sĩ miền Bắc. Cường nĩi dài mà cĩ duyên, kiến thức tổng quát dồi dào nên lời ăn tiếng nĩi nhiều ư nghĩa.  Cịn nhớ hồi học khĩa 23 Sĩ Quan Thủ Đức, chắc cĩ lẽ nhờ “ mồm mép” như vậy, nên Cường được chỉ định làm Sinh Viên Sĩ Quan Đại Diện khĩa, một chức sắc vừa lớn vừa sướng v́ ăn trên ngồi trước, nhất là khỏi đi băi tập nắng cháy da người, khỏi vác súng garant M1 - nặng thấy mẹ – tới vũ đ́nh trường đi ắc ê và khỏi biết bài ca “ quân trường đổ mồ hơi, sa trường bớt đổ máu” , khỏi phải bị hỏa lực , khỏi phải đi dây tử thần, tuột núi, khỏi vượt sơng śnh lầy. Sướng ơi là sướng đĩ Cường ơi!

Tơi cĩ một kỉ niệm “ chết người” với Cường tồ là sau khi VC về Sài Gịn, Cường  với mẹ tại căn nhà  trong ngơ hẻm ngang chợ Vườn Chuối. Một hơm vào tháng Năm năm1975, tơi đến chơi với Cường vừa ra về là Cơng An ập đến vây bắt Cường , may mà Cường cũng vừa chuồn một lúc với tơi. Sau đĩ, Cường phải trốn tránh trong khu Chợ Lớn cho tới ngày vượt biên. Cường hiện ở Oklahoma  với thành tích dễ nể là sản xuất ra  8 tác phẩm và đặc biệt nhất là đề huề 4 trai 4 gái mà cho tới bây giờ Cường chưa chịu chỉ cho thế hệ sau làm sao mà quân b́nh cán cân chi phĩ hay như vậy.

            -Vơ Quang Quán: nhân sĩ miền Trung. Tơi dám đánh cuộc rằng hễ ai mà lỡ tranh luận với Quán th́ chỉ cĩ từ chết tới bị thương. Quán nĩi hăng say khích động, tranh luận đến cả bỏ ăn bỏ ngủ để dành được chiến thắng mới thơi. Mấy ai mà cĩ sức chịu đựng như vậy , thơi th́ chịu thua Quán cho đỡ mỏi miệng. Anh cĩ ước vọng nĩi trước diễn đàn Quốc Hội nhưmg tiếc thay mộng chưa thành th́ Quán đă bă bị VC sát hại trên đường di tản từ Quảng Tín ra Đà Nẳng.                                              

  - Lê tấn Trạng : nhân sĩ miền Nam. Trạng ứng cử dân biểu pháp nhiệm 2 năm 1967 tại tỉnh Mỹ Tho, nơi anh đă từng làm Phĩ Quận Châu Thành. Mặc dù bị chính quyền chèn ép tối đa, hơn nữa là một ứng cử viên nghèo, Trạng vẫn đắc cử vẻ vang để vào tịa nhà Lập Pháp và đầu quân khối Dân Quyền  ( một bộ phận trong Hạ Viện của Phong trào Quốc Gia Cấp Tiến của cố Giáo sư Viện Trưởng Nguyễn văn Bơng). Định cư tại San Diego, anh hiện là Chủ tịch Chủ tịch Đồn Liên Minh Dân Chủ do cố Giáo sư Nguyễn ngọc Huy sáng lập.

            Ngồi ra, khĩa 11 cịn cĩ Trần quang Trí ( Trí cao) từnglà Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gịn sau Lê hữu Bơi và trước Tơ lai Chánh. Trí đă xuất sắc lèo lái con thuyền Tổng Hội thốt qua những sĩng giĩ biến động chính trị sơi động nhất của Sài Gịn thời bấy giờ. Tuy nhiên, sự “đứng thẳng” của Trí đă phải trả một giá bằng cái vết sẹo dài trên mơi do một nhĩm địch thủ quá khích dùng dao rạch mặt anh ngay trụ sở Tổng Hội Sinh Viên. Trí hiện ở tại San Jose và cũng cịn nặng t́nh với nước non lắm. Tơi cĩ một kỷ niệm đáng nhớ với Trí là vào năm 1971 khi tơi và Hà Anh Tuấn ( chàng lăng tử khĩa 12) về Sài Gịn dự đám tang Giáo Sư Nguyễn văn Bơng, sau đĩ Tuấn lạng quạng ở quán nhậu thế nào mà bị Cảnh Sát Quận Nhứt bắt về bĩt, tơi phải chạy lại nhờ Trí lúc đĩ là Quận Trưởng Quận 10  can thiệp để thả chàng lăng tử. Trí vưà lái xe vừa cằn nhằn tơi: “ Mày dẫn nĩ lên đây th́ mày phải coi chừng nĩ chớ sao để nĩ đi hoang như vậy”.
  Nĩi về chức vụ th́ khĩa 11 cĩ 2 chàng làm “ lớn” nhất mà cả hai đều tên Thành ( các bạn đừng cĩ bắt chước người ta mà đặt con cháu tên Thành là hổng cĩ được đâu , đĩ là phạm húy đấy). Chàng thứ nhất là Nguyễn văn Thành tức Thành “vị” làm Tổng Thư Kư Phủù Phĩ Tổng Thống, tot nghiệp thủ khoa Ban Kinh Tế Tài Chánh và đặc biệt hơn là thủ khoa luơn cả khĩa 23 Sĩ Quan trừ bị Thủ Đức. Sang Mỹ , Thành định cư tại Portland, Oregon và tử nạn v́ tai nạn xe cộ năm 1994. Nhân vật quyền thế thứ hai là Nguyễn quư Thành ( Thành “con” nhưng to chức) làm tới Chánh Sự Vụ Sở Nhân Viên  Bộ Nội Vụ, như vậy là sếp của hầu hết anh em chúng ta. Coi vậy mà chàng nghèo rớt mùng tơi v́ chẳng chịu “ ăn uống” ǵ hết. Thành hiện định cư tại Edmonton, tỉnh Alberta, Canada và mới đây Thành được vinh danh là 1 trong 100 Edmontonians of the century là những người đă cĩ cơng đĩng gĩp cho cộng đồng và sự phát triển của thành phố. Đây là một vinh dự khơng những cho Thành mà cịn cho cả tập thể CSVQGHC và cộng đồng Việt Nam tị nạn Cộng Sản tại hải ngoại.

            Ngồi những anh chị tiêu biểu trên, khĩa 11 chúng ta cịn cĩ nhiều cái nhất lắm, nhất hay mà nhất dở cũng cĩ, thơi th́ chúng ta đều đă tới tuổi 

“ lục thập ngơn bất nghịch nhỉ” cả rồi, xin các bạn cho tơi nĩi hết ra đây nhé!
- Cĩ nhiều bạn giữ chức vụ Phĩ Tỉnh Trưởng nhất so với các khĩa khác của Học Viện. Tổng cộng là 16 người: Uyển, Thuyết, Cường cọp, Thiệu, Khoa VC, Cường tồ, Phước Đĩi, Cửu sừng, Phúc cận, Chức, Lương, Phát bấn, Quang bần, Thạnh, Chí ( Chí Diễm), Cảnh già.
          

         - Cĩ nhiều cầu thủ trong đội bĩng trịn Học Viện nhất: Cửu sừng, Thạnh, Ngọc, Tuyên, Thiệu, Nhuận, Uyển, Phát bấn, Thu, Trí cao. Line up của một đội banh cĩ 11 người mà khĩa 11 đă cĩ đến 10 người . Đúng là chơi trội.

            - Cĩ nhiều hội viên x́ phé nhất trường và đây là danh sách những “ bác thằng bần” : Châu, Đạo dừa, Cửu sừng, Tuyên, Cường cọp, Khuê ( ủy viên quần đùi đen), Phước đĩi, Hải đen, Thọ trắng, Thật, Quang bần, Thành ( Đinh đĩng Thùng) , Hồng cabot, Phát bấn, Triêm, Giỏi. Chừng bấy nhiêu chiến tướng đĩ đủ set up cho 3 sịng x́ phé tưng bừng hoa lá hẹ.

            Nếu bảo rằng văn vơ song tồn th́ khĩa 11 ta cũng hội đủ đấy các bạn ạ . Chúng ta cĩ 2 vơ sư Vovinam là Nguyễn văn Thư và Nguyễn văn Cường đă cĩ cơng sáng lập lớp vơ thuật Vovinam cho khĩa ( và cả các bạn khĩa khác). Cứ mỗi chiều, ngay sân sau Học Viện, h́nh ảnh anh em quơ tay đá chân trong lúc miệng th́ la to “ sát sát” rồi uưnh xáp lá cà trơng thật vui mắt và thân t́nh. Ngồi ra, chúng ta cĩ Văn tịng Hịa  là một vơ sư vơ B́nh Định đă từng thượng đài nhiều lần ( nhưng ăn thua th́ chưa nghe nĩi). Cịn nhớ câu :
 Ai về B́nh Định mà coi

              Đàn bà cũng biết đánh roi đi quờn

th́ chắc Hịa phải là tay ch́ lắm, chả thế mà Hịa cĩ nhiều mơn sinh lẽ dĩ nhiên là miễn phí như Cầu, Phát bấn...Cứ nửa đêm là Hịa dẫn đám đồ đệ xuống bên ngồi đại giảng đường để dạy những bước ngũ hành, trung b́nh tấn, địn nhập nội, đá song phi... làm đứa nào cũng tưởng ḿnh là Trương vơ Kỵ tới nơi rồi. Hịa hiện ở tại Santa Ana   thường kéo bạn bè tới nhà bù khú lắm.

            Riêng tơi và Nguyễn phú Hùng sau khi tốt nghiệp cùng xuống Vĩnh B́nh , Hùng là Phĩ Quận Cầu Ngang, cịn tơi làm Phĩ quận Tiểu Cần. Hai đứa cùng khối nhậu, do đĩ cĩ những kĩ niệm thật khĩ quên, một hơm Hùng sau cơn xỉn, cũng cịn nhớ bắt tay từ giả bạn bè nhưng đến khi ra vespa , Hùng đă quên mở khĩa cỗ xe và cứ cho nổ máy rồi hiên ngang chạy, chiếc vespa v́ cịn khĩa cổ nên chỉ chạy vịng vịng được một lúc rồi quăng Hùng té nhào trên mặt đường
với nhiều vết cắt trên mặt. Hơm khác cũng tơi và Hùng , sau khi tàn sát 2 chai Martell cùng các chiến hữu, hai đứa đă quá “đả” , khi ra về Hùng dành lái chiếc xe Toyota Corolla cịn mới cáu cạnh của thằng bạn thân Trà văn Gởi, chạy ngang phi trường Trà Vinh, chắc Hùng đang mơ là đang lái mấy em tiếp viên phi hành quá phê nên bất th́nh ĺnh tơi chỉ kịp nghe mấy tiếng ầm! ầm! là chiếc xe Toyota đă tơng mạnh vào gốc sao to lớn ngang cổng phi trường. V́ xe Nhật dàn đồng yếu nên đầu xe bẹp dúm và sau đĩ đem bán ve chai luơn. May mà 2 đứa tơi b́nh yên vơ sự. Từ đĩ Vĩnh B́nh cĩ thêm hiệu xe mới là Tơ-yơ- Sao mà saleman là Nguyễn phú Hùng.
                                                       

            Đến đây, thiết tưởng tất cả khĩa 11 chúng ta cũng nện dành đơi phút lắng động tâm hồn, thắp nén hương lịng để tưởng niệm các bạn đồng song vắn số. Theo thứ tự thời gian, một số bạn dưới đây đă lần lượt ra đi :

            - Nguyễn đức Hồng: chàng trẻ tuổi đẹp trai học giỏi lại là người ra đi trước nhất của khĩa ( năm 1969 bị đạn pháo kích)
 - Nguyễn ngọc Thọ : Lại thêm bạn good looking chết v́ tai nạn xe cộ   (năm1972)

            - Vơ quang Quán :  nhà hùng biện khĩa 11 bị VC sát hại năm 1975

            - Đỗ như Khuê : chết trong trại cải tạo năm 1979

            - Vũ thế Hùng : cancer ruột 1980

            - Phạm kim Rương: chết trên đường vượt biển 1982

            - Nguyễn đức Cảnh : vượt biên đường bộ 1984

            - Nguyễn văn Cao : bị rắn hổ cắn trong khi làm ruộng 1987

            - Phạm thăng Chức : ung thư 1993

            - Nguyễn văn Thành : tai nạn xe cộ 1994

            - Phan thế Dinh: ung thư 1998

            - Vũ tuấn Thịnh : vượt biên

            - Nguyễn văn Phúc : heart attack 2002

            - Vơ tấn Thọ: 2004

            - Nguyễn văn Thư : đau gan 2004
Sau cuộc vật đổi sao dời, đồng môn khóa 11 tản lạc tứ phương, đa số đều định cư tại hải ngoại, chỉ c̣n vài bạn phải kẹt lại trong nước như : Lê tự Em, Hồ đắc Sang, Huỳnh khánh Lâm... Tâm trạng chung của các bạn ở hải ngoại lúc ban đầu là chới với hụt hẫng trong cuộc sống mới nếu không muốn nói là chán đời v́ nghề Hành chánh chúng ta quả là hết thời so với các nghề nghiệp khác như bác sĩ, dược sĩ...Nhưng rồi th́ ngày buồn cũng qua mau và ai nấy lần lượt ổn định. Điểm qua những khuôn mặt khóa 11 hải ngoại có phần “tươi tỉnh” hơn các bạn khác là:

            - Nguyễn Phụng: giáo sư Đại Học North Carolina

            - Nguyễn thanh Phong: kỹ sư trưởng điện toán

            - Nguyễn xuân Tùng: kỹ sư luyện kim

            - Nguyễn văn Phúc : kỹ sư Công Chánh

            - Lê quang Minh: luật gia

            - Nguyễn hữu Hồng :  CPA,hậu kiểm liên bang

Ngoài ra, phải công nhận rằng bạn Nguyễn đ́nh Phúc ( Vancouver) đă đóng góp không nhỏ vào công tŕnh bắt nhịp cầu liên lạc , viên gạch nối keo sơn giữa các anh chị khóa 11 với nhau. Nhiệt t́nh và nhanh nhẹn là đức tính mà ai cũng t́m thấy ở Phúc. Xin vinh danh ḷng sốt sắng và t́nh đồng môn cao quư của bạn ta.

            Các bạn khóa 11 thân mến,

Chúng ta đă mất nước gần 30 năm, đối với  đời người đó là một thời gian triền miên đăng đẳng nhất là sau cuộc đổi đời dâu bể tang thương. Trong kiếp sống tha hương tất bật nhọc nhằn, chắc chung ta có một phút giây lắng động tâm hồn để ngậm ngùi tưởng nhớ đến Thầy Cô, bạn cũ, trường xưa, ai c̣n ai mất, ai tản lạc bốn phương trời, ai đang oằn oại dưới trận hồng thủy tàn bạo của cái gọi là cách mạng vô sản. Ngôi trường thân yêu trang trọng của chúng ta đă nhiều lần bị thay đổi tên nhưng tôi tin chắc rằng 6 chữ HỌC VIỆN QUỐC GIA HÀNH CHÁNH và cái địa chỉ số 10 Trần quốc Toản, Quận 3 Sài G̣n vẫn sống măi trong ḷng những người đă từng một thời là Sinh Viên HVQGHC.

 

                            Toronto July 19, 2004

                                       Nguyên TrầnChú ư : Xin đọc giả chịu khó đọc các chữ bị tách rời. Nếu tôi sửa lại cho đúng, các dấu tiếng Việt sẽ biến mất ! Vi` website Tripod format sẵn có nhược điểm chưa khắc-phục được. Cám ơn.

Quang Trung 1964 !
qt2.jpg
Tam xep bút nghiên anh lên quân-truong

Tạm xếp bút nghiên anh lên quân-trường
Nắng lửa mưa dầu em nào biết thương ?

Bạn Nguyễn Tấn Phát đă viết bài trên đây, dữ liệu như c̣n nguyên vẹn sau ngày mới ra khỏi Học viện.Đọc lại không khỏi bồi hồi, những bạn ngồi cùng lớp với ta, nay tứ tán bốn phương trời, kẻ c̣n người mất !

Ṭa Thi Chính Dàlat
dalatcity1.jpg
Công chuc Ṭa Thi Chính Đa` Lt

NHỮNG NGÀY

LƯU LUYẾN ẤY

Thọ X́ Phé

 

  Sau 38 năm, nghĩ lại những ngày đầu của hành tŕnh đi vào đời Hành Chánh, tôi vẫn c̣n lưu luyến những kỷ niệm thật dễơ thương, nhưng cũng có phần chua chát, nhất là trong giai đoạn khởi sự tại nhiệm sở đầu tiên: Thị Xă Đà Lạt, xứ hoa anh đào, sương mù giá lạnh.

 

Tôi nhận nhiệm sở Đà Lạt là do định mệnh hơn là một lựa chọn. Điều này sẽ làm nhiều người thắc mắc! V́ trước mặt Giáo sư Nguyễn Văn Tương, Đặc Uûy Trưởng Hành Chánh, ( chức vụ ngang hàng Bộ Trưởng Nội Vụ của tổ chức hành chánh thời bấy giờ) mọi anh em Khóa 11 đều phải xác nhận một nhiệm sở trong danh sách.
Như vậy là mọi người đều phải lựa chọn một nhiệm sở theo thứ tự ưu tiên của ḿnh, dựa trên kết quả kỳ thi tốt nghiệp khoá 11 Đốc Sự. Nhiệm sở đó có thể đúng với ư muốn theo tiêu chuẩn lựa chọn: tỉnh hay thị xă lớn, có an ninh, hoặc là tỉnh, thị xă nhà, cũng có thể chỉ là một nhiệm sở bất đắc dĩ v́ không c̣n nhiệm sở nào đạt các điều kiện trên.
Nhưng dù trong trường hợp nào th́ quyết định của tôi cũng là một lựa chọn chứ tại sao tôi lại nghĩ đó là do định mệnh?

Đó là ư kiến của gia đ́nh người vợ sắp cưới của tôi!
Chính v́ yếu tố này, tôi đă gây một xáo trộn đáng tiếc cho nhiều anh em khác.

 

Nhân hồi tưởng lại sự việc này, xin các anh em bị ảnh hưởng do sự lựa chọn“định mệnh” nói trên gây ra, hăy thông cảm mà xá lỗi cho tôi.
Đặc biệt là anh Trần Ngọc Thiệu phải chọn Tỉnh Tuyên Đức thay v́ Thị Xă Đà Lạt và anh Nguyễn Văn Cường, phải chọn Tỉnh Lâm Đồng thay v́ Tỉnh Tuyên Đức. Nhưng cũng may nỗi ân hận đă không dày ṿ tôi lâu, v́ chỉ vài năm sau do sự xáo trộn đó mà các anh ấy đă được thăng tiến. C̣n tôi, gây gió nên phải bị sương mù đè nặng chỉ leo lên Phụ Tá Hành Chánh và cho đến ngày sắp mất nước mới cầm được Nghị Định bổ dụng Phụ Tá Tỉnh trưởng Phong Dinh kiêm Phụ tá Thị trưởng Cần Thơ đặc trách kinh tế để rồi vào tù Cộng sản.

 

Do “định mệnh” đó, tôi, tốt nghiệp Ban Hành Chánh, cùng Nguyễn Quư Thành thuộc Ban Kinh Tế Tài Chánh, lên xứ gió lạnh sương mù thơ mộng Đà Lạt vào một ngày mùa hè nắng ấm nhưng sao anh em chúng tôi vẫn thấy ḷng hơi se lạnh. Lạnh lẽo v́ sự xa lạ, “lạnh cẳng”do nỗi niềm lo âu v́ Đà Lạt  là một thành phố được mệnh danh ”trung tâm văn hoá”, dân trí nói chung khá cao  và có nhiều người liên hệ với các giới hức cao cấp trong chính phủ và trong hàng ngũ tướng lănh của quân đội.

 

Đà Lạt là đất thuộc Hoàng Triều Cương Thổ trong thời vua Bảo Đại với Dinh I cho Quốc Trưởng Bảo Đại, Dinh II và Dinh III để đón quốc khách. Đà Lạt c̣n là trung tâm văn hoá của cao nguyên Trung Phần với Giáo Hoàng Học Viện đào tạo các linh mục cho giáo hội Công Giáo, với Viện Đại Học Đà Lạt và Đại Học Chính Trị Kinh Doanh nổi tiếng được các sinh viên khắp nơi đến thụ huấn, với Trường Chỉ Huy và Tham Mưu dành tu nghiệp các sĩ quan cấp  tướng và cấp tá, với Đại Học Chiến Tranh Chính Trị và Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, quân trường đào tạo các câp chỉ huy quân đội chuyên nghiệp thuộc Bộ Quốc Pḥng.

Vùng “đất của nhà vua” này cũng hiện dịên ba ngôi trường dậy theo chương tŕnh Pháp là Lyceé Yersin, Adran và trường dành cho nữ sinh nổi tiếng có tên Couvent des Oiseaux, nơi con cáÙi nhà giầu từ tứ xứ đổ về trọ học.

 

Thị xă tuy chỉ có chưa tới 70,000 dân mà có đến 6 trường trung học. Công lậâp là trường Hưng Đạo dành cho nam sinh và Bùi Thị Xuân dành cho phái nữ. Tư thục th́ có hai trường là Văn Học của ông Chử Bá Anh và Việt Anh của ông Lê Phỉ. Sau này, lại có thêm trường bán công Thăng Long và Trường Văn Khoa của nữ văn thi sĩ Vi Khuê . Thời gian đó, Nguyễn Quư Thành được mời giảng dậy môn Công Dân Giáo Dục tại Việt Anh và Quang Trung. Phần tôi, cũng thường nhận được lời mời vào Trường Vơ Bị để thuyết tŕnh cho các sinh viên về tổ chức nền hành chánh công quyền của Việt Nam.

 

Đà Lạt cũng là trung tâm du lịch và nghỉ mát nổi tiếng tại miền Nam. Do đó,trong thời gian làm việc tôi và Thành thường được cử thay mặt cho các vị Thị Trưởng ra tận phi trường Liên tiếp đón và hướng dẫn các vị Đại Sứ ngoại quốc đến viếng thăm Đà lạt.  Anh em chúng tôi phải “mặc đồ lớn”, côm-lê,  cà-vạt và thưc tập xài muỗng niă ăn “cơm Tây” thường xuyên, trái ngượùc lại với việc một số  bạn khác phục vụ nơi ải điạ đầu, phải đối phó với lằn tên, mũi đạn. Chúng tôi thật là may mắn khi được làm việc trong một khung cảnh lư tưởng như vậy để đem ra áp dụng trên thực tế các bài vở đă hấp thụ trong 3 năm đèn sách tại Học Viện của chúng ta.

 

Trở lại vấn đề đáo nhậm nhiệm sở, Thành và tôi không lo âu sao được khi cả Ṭa Thị chính lúc đó chỉ có mỗi một Đốc sự hành chánh duy nhất, thuộc Khóa I, anh Thẩm Huy Khôi, trong chức vụ Phó Thị trưởng, c̣n tất cả các cấp chỉ huy khác đều xuất phát từ ngạch Thư kư đánh máy, do thâm niên công vụ và lăo làng nên được cải lên ngạch Thư kư hành chánh.

Quư anh chị chắc cũng từng có kinh nghiệm với những vị đó. Anh chị em chúng ḿnh mới ra ḷ như con nai tơ họ không nuốt sống th́ cũng vần cho thất điên bát đảo!

 

Về nhân viên dưới quyền th́ phần lớn các nhân viên tuổi đời từ tứ tuần trở lên đều đă từng phục vụ trong Ngư Lâm Quân hay Toà Đại Biểu Chính Phủ tại Cao Nguyên Trung Phần nên họ rất rành rẽ thủ tục và thuộc loại có vai vế trong cộng đồng. Một nữ nhân viên ở tuổi lứa ba mươi thuộc Ty Hành Chánh của tôi lại là một nhà thơ nổi tiếng, tác giả bài  “Em là cô gái trời bắt xấu”, nữ thi sĩ Lệ Khánh.

 

Thêm nỗi lo âu khác mà chắc chắn không một anh em nào khác trong khóa 11 ḿnh có được, trừ hai đứa chúng tôi. Đó là tụi tôi sẽ làm việc với một vị Thị trưởng là một người phụ nữ thượng lưu trí thức, thay v́ một vị vơ biền cho nên kinh nghiệm của tôi và Thành hầu như khác biệt nhiều với đại đa số anh chị em cùng khoá.

 

Chắc quư anh chị em đă biết tánh t́nh Nguyễn Quư Thành, làm việc ǵ cũng chu đáo, có kế hoạch và hăng say, làm đến nơi đến chốn. Nguyễn Quư Thành lo xa nên đă t́m gặp các anh hành chánh đàn anh đang làm việc tại tỉnh Tuyên Đức để ”thăm ḍ t́nh h́nh địch bạn”. Tỉnh này đặc biệt có Ṭa Hành chánh toạ lạc ở ngay tại Thị xă Đà Lạt, trên cùng một con đường nên các anh em QGHC bên Tuyên Đức rất thông thạo t́nh h́nh bên Ṭa Hành chánh Thị xa,ơ. Thành đến để thăm hỏi các bậc đàn anh và xin ư kiến cố vấn. Ngược lại, tôi là dân “x́ phé”, ván bài nào th́ tính ván đó, người ta tố th́ tố lại và chơi xả láng. Tụi tôi nhờ vậy mà cùng nhau “phôí hợp công tác” rất hài hoà, không những chỉ trong công vụ mà hầu như cả trong cuộc sống riêng tư nữa.

Sau khi nghiên cứu đầy đủ chi tiết địa h́nh, địa vật, hai chúng tôi đóng bộ đàng hoàng, xông vào trận địa. Trước hết, tŕnh diện anh Phó Thị trưởng Thẩm Huy Khôi, tiếp đến, tŕnh diện Bà Thị Trưởng, nữ luật sư  Nguyễn Thị Hậu. Tôi c̣n nhớ rơ hôm đó bà nữ thị trưởng mặc một chiếc áo dài thật sang trọng và lịch sự, trên cổ là một ù khăn quàng rất ư là hợp thời trang. Trên bàn làm việc của bà là một b́nh hoa cắm đầy những cánh hồng tươi thắm. Đà Lạt là thành phố của muôn hoa mà lị!

Khi được ông Tùy Phái già (tuỳ phái nhưng mặc veston!) mở cửa Văn Pḥng Thị Trưởng và hướng dẫn chúng tôi bước chân vào pḥng, hai tên ĐS mới ra trường choáng mắt v́  căn pḥng vô cùng rộng lớn. Sàn pḥng bằng gỗ cứng, “harwood floor” đước đánh bóng lộn. Bàn làm việc của bà Thị Trưởng, được bố trí ở cuối pḥng, là một chiếc bàn gỗ quư, lớn quá khổ, chạm trổ tinh vi và được đánh vẹc ni lộng lẫy.

Cách sắp đặt văn pḥng như vậy khiến cho “quan khách” phải đi bộ một khoảng cách xa trước khi gặp gỡ được “đối tượng” và cảm thấy ở trong t́nh trạng “bị động” trước khi được diện kiến chủ nhân. Khung cảnh trang trọng, thanh lịch với những đoá hoa tươi thắm, với sự hiện diện của một vị nữ lưu đảm nhiệm chức vụ quan trọng số một trong thị xă làm cho anh em chúng tôi quên hẳn địa vị của ḿnh là hai Phó Đốc sự mới ṭ te đang tŕnh diện trước một xếp lớn, tôi bèn mở máy “ga lăng” lả lướt khen Bà Thị trưởng một phát. Chúng tôi không ngờ sự “ga lăng” đó có kết quả tốt không ngờ!

 

Bà Thị trưởng quan tâm đặc biệït hỏi về nơi ăn chốn ở: “Thế hai ông Đốc Sự hiện đă có chỗ ở chưa?”. Chúng tôi thưa bà Thị Trưởng là cả hai đang tạm trú ngụ tại đường Hai Bà Trưng, cách trung tâm thành phố chỉ hơn một kilô mét. Bà Thị Trưởng cho biết nơi đó không được an ninh trong khi Phật Giáo đang “xuống đường” và ngay lập tức bà bấm chuông gọi ông Chủ Sự Pḥng Nội Dịch, chỉ thị cho ông lấy ngay một căn pḥng tại khách sạn Palace, khách sạn lớn nhất và sang trọng nhất của thị  xă, toạ lạc ngay ven hồ Xuân Hương cho chúng tôi ăn ở trong thời gian chờ đợi về tŕnh diện quân trường Thủ Đức để thụ huấn một khóa quân sự.

Như tôi đă nói ở trên, thấy hai tên Phó Đốc sự này về Thị xă là các vị công chức Chủ Sự pḥng đương nhiệm đă muốn “chém” rồi, đừng nói chi đến việc lấy pḥng tại khách sạn  cho chúng tôi ăn ở! Thế là ông Trưởng Pḥng Nội dịch (tuy đang đứng tại văn pḥng Bà Thị trưởng mà lại biết là khách sạn Palace đă hết pḥng) bèn báo cáo ngay là khách sạn Palace đă hết pḥng ! Nhưng Bà Thị trưởng ra lệnh cho ông ta la` “Toà Thị Chính phải t́m một khách sạn nào tốt cho hai ông Đốc Sự  ở ".

 

Nhờ thế, hai đứa chúng tôi được trú ngụ tại khách sạn Thủy Tiên và ăn tại nhà hàng lớn nhất thị xă là “Chic Shanghai” trong suốt 3 tuần lễ. Pḥng rộng răi, có hai giường lớn, nên chúng tôi nhường một giường cho chị Nguyễn Văn Cường nghỉ lại trong những ngày chờ bác sĩ khám thai cháu đầu.

Số là Nguyễn Văn Cường tính về Tuyên Đức nhưng v́ tôi chọn Đà Lạt nên Nguyễn Văn Thiệu buộc phải lựa Tuyên Đức và anh chàng Cường Tồ bị “hổng gị”, phải đi Lâm Đồng và hậu quả là phải “gởi gấm bà bầu” với tuị tôi trong vài ngày để Cường về tŕnh diện Lâm Đồng. Đó mới là nỗi “Oan Thị Kính” mà chúng tôi phải gánh chịu sau này do mấy anh chàng Chủ Sự già“ráp bo” với bà Thị trưởng trong thời gian chúng tôi rời Đà lạt , về tŕnh diện thụ huấn Khóa 23 Thủ Đức rằng:
“Bà Thị trưởng đối xử tử tế với hai ông Phó Đốc sự như vậy thế mà hai ông ấy lại đem gái về ở chung pḥng”.

Hậu quả là sau 9 tháng thụ huấn quân trường và trở về lại Ṭa Thị chính, Bà Thị trưởng không tiếp và “giam” chúng tôi suốt một năm làm “siêu nhân viên” cho đến khi bà rời Thị xă Đà Lạt!
Trong thời gian đó, chúng tôi mới nếm mùi đắng cay!
Một hôm, vị Chủ Sự Pḥng (lúc này Thị xă chưa có qui chế mới nên chưa đổi Pḥng thành Ty)  giao cho tôi một hồ sơ để giải quyết. Tôi hoàn tất và trao bản thảo tờ tŕnh lại cho ông ta. Ông ta mới bảo tôi: “Ông phải đem đánh máy rồi tŕnh kư, chứ ở đây không ai làm thay cho ông cả.” Dù trong Pḥng ấy có đến hai thư kư lo việc đánh máy. Tôi nổi giận và trả lời ông ta: “Xin lỗi ông nhé! Trường Quốc gia Hành chánh chỉ dạy chúng tôi chỉ huy chứ không có dạy đánh máy chữ.”

 

Lần khác, lại bị người khác hoạnh họe, tôi “tố” lại ngay, “dân x́ phé” mà lị: “Các ông có nhà cửa, có cơ sở làm ăn nên cần ở đây, c̣n chúng tôi chỉ một chiếc va li thôi, nên bất cứ lúc nào cũng xách đi được. Đừng có dại mà chơi chúng tôi!”.
Nhờ “tố xả láng” nên họ e dè không c̣n dám đối đầu và chúng tôi cũng được tạm thời yên thân.

Tôi c̣n nhớ ông Chủ Sự Pḥng Hành Chánh của tôi có lần hỏi “móc ḷ” Nguyễn Quư Thành, “siêu nhân viên” tại Pḥng Kinh Tế về một chi tiết nhỏ nhặt mà tôi không c̣n nhớ rơ nội dung: “Vụ này trường HC không có dậy mấy ông hay sao?” “Phó Đốc Sự Thành” trả lời tỉnh bơ: “Ấy trường chúng tôi chỉ dậy mấy chuyện ǵ quan trọng, chứ mấy cái lẻ tẻ này th́ không cần thiết, để cấp dưới tuỳ nghi giải quyết theo sáng kiến của họ. Tụi tôi mà được học hết th́ mấy ông thất nghiệp, c̣n chi mà làm nữa”.

 

Sau cuộc “đảo chánh” tại Tổng Hội Cựu Sinh Viên Quốc gia Sài g̣n của anh Nguyễn Huy Hân, anh em Hành chánh tại các địa phương được lưu tâm giúp đỡ và chúng tôi được Bộ Nội Vụ nhắc nhở Ṭa Thị chính về việc sử dụng.

Một mặt khác, trong cuộc bầu cử cấp Tỉnh, Thị năm 1967, hai đưá tụi tôi được giao phó toàn bộ nhiệm vụ tỏ chức và điều hành cuộc bỏ phiếu.  Chúng tôi là hai thuyết tŕnh viên chánh trong các buổi học tập tại Hội Trường chính của thành phố là Rạp Ciné Hoà B́nh trước hàng trăm công nhân viên, quân cán chính các Ty, Sở, Pḥng, Tiểu Khu,.. nội ngoại thuộc hai toà hành chánh Tỉnh, Thị Tuyên Đức Đà Lạt. Rồi th́ phương pháp điềuhành rất hữu hiệu và thành công Pḥng Phiếu Chánh của hai “ông Phó Đốc Sự” đă là cơ hội bằng vàng cho Thành và tôi chứng tỏ khả năng hơn hẳn các vị chỉ huy nội thuộc đương quyền.  Bắt đầu có dư luận, x́ xào trong giới công chức là hai ông Phó Đốc Sự “trẻ tuổi, tài cao” và có ngạch trật cao như vậy mà lại không có chức vụ ǵ cả?!...

 

Nhờ vậy, khi Đại Tá gốc quân nhu Hồ Văn Di Hinh (thứ nam của nhà văn miền Nam nổi tiếng Hồ Biểu Chánh) về làm Thị Trưởng thay thế nữ Luật Sư Nguyêơn Thị Hậu, Nguyễn Quư Thành đă được cử làm Trưởng Ty Nội An, rồi Trưởng Ty Tài chánh cho đến ngày đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ vào đầu năm 1972. Bộ Nội Vụ sau đó đă lưu giữ Thành tại trung ương để đảm trách chức vụ Chuyên Viên Tài Thâu rồi một năm sau đó giữ chức vụ Chánh Sở Nhân Viên khi Bộ phát động việc cải tổ hành chánh. C̣n tôi, được cử Trưởng ty Hành Chánh (cùng một lượt với Thành giữ Ty Nội An) rồi chuyển qua Trưởng ty Tài Chánh thay thế Nguyễn Quư Thành và cuối cùng là Phụ tá Hành Chánh tại Thị xă Đà lạt.

Việc “ma mới bị ma cũ bắt nạt” tuy thế cũng chưa hết với chức vụ chỉ huy đầu tiên mà anh em chúng tôi được phong. Ty Nội An trong tổ chức Toà Hành Chánh của thị xă trên nguyên tắc chiụ trách nhiệm phụ giúp cho vị Thị Trưởngvề an ninh nội chính. Do đó, Ty Cảnh Sát phải báo cáo về thị xă việc bắt giữ hoặïc an trí các nghi can CSVN. Ty cũng phải tường tŕnh các hoạt động của Cảnh Sát Dă Chiến phục kích VC hàng đêm. Ngân sách của thị xă đài thọ chi phí  cho các cuộc phục kích này.

 

Lúc bấy giờ có dư luận x́ xầm là Cảnh Sát báo cáo ma các vụ phục kích để lấy tiền. Trưởng Ty Nội An bèn thảo một Bưu Điệp thượng khẩn và mật để ĐT Thị Trưởng kư, yêu cầu Thiếu Tá Trưởng Ty Cảnh Sát thông báo cho thị xă mật khẩu của toán phục kích để thị xă đến tận chỗ thanh tra. Tuy nhiên, 2 bưu điệp được gởi đi mà không có hồi đáp, măc dù Ty Cảnh Sát có trụ sở chỉ cách Toà Thị Chính không đầy 100 m. Bưu điệp thứ 3 được gởi đi kèm theo lời ghi chú: ‘Bưu điệp này được gởi lần thứ 3”.

Đến lần này th́ Ty CS buộc phải trả lời với lư do là “Mậât khẩu không thể tiết lộ v́ lư do ‘bảo mật’”. Trưởng Ty Nội An bèn vào tŕnh với ĐT Hinh: “Thưa ĐT, nếu Ty CS không tin tưởng và cho rằng ĐT Thị Trưởng không giữ được bí mật của mật khẩu th́ tôi không biết CS phục vụ cho ai v́ ĐT là tư lệnh các lực lượng an ninh của thị xă.”

Là một quan vơ nhưng có tư cách của một vị văn quan và là một người vô cùng đạo đức, thanh liêm, sáng suốt ĐT Hinh chấp thuận đề nghị của Ty Nội An. Kết quả là Phó Đốc Sự Thành mặc quân phục không đeo lon của Khoá 23 Trường Bộ Binh Thủ Đức cấp phát trước đây, trên vai áo chỉ gắn huy hiệu “Quốâc Gia Hành Chánh” vơ trang bằng súng carbin bán tự động và lựu đạn, mang theo 1 tiểu đội Nhân Dân Tự Vệ và Nghiă Quân biệt phái có vơ trang đến toạ độ mà Ty CS báo cáo là đang phục kích VC để kiểm chứng. Dĩ nhiên là toạ độ này không có ma nào phục kích cả.

 

Thế là Ty Nội An tường tŕnh lên ĐT Thị Trưởng để xin cúp tiền “trợ cấp phục kích” cho Cảnh Sát. Trong công tác “mạo hiểm” này có lần “quân” của Ty Nội An nằm giữa 2 lằn đạn qua lại rất nguy hiểm của một bên là mấy tên du kích VC ṃ về lấy đồ tiếp tế và bên kia là nhóm CS đặc biệt “đi phục kích thiệt“ lần này. Thật là “liều và dại”!
Ty Nộïi An (Pḥng Chính Trị) lại c̣n “dại dột”hơn nữa, giám đề nghị ĐT Hinh lâu lâu “tái thẩm vấn” các nghi can VC mỗi khi tờ tŕnh của Ty Cảnh Sát về việc câu lưu các nghi can này quá sơ sài, vi phạm lộ liễu quyền tự do căn bản của người dân. ĐT Thị Trưởng chỉ thị Pḥng Cảnh Sát Đặc Biệt lập tức dẫn giải nghi can thẳng từ Trung Tâm Cải Huấn về ngay các phiên họp của Uỷ Ban Phượng Hoàng để Chủ Tịch Uỷ Ban là Thị Trưởng hỏi cung lại rồi cuối cùng quyết định, hoặc giữ y đề nghị an trí của Ty CS hay tha bổng các nghi can. Có trường hợp hồ sơ tội phạm quá sơ sài, chỉ vẻn vẹn độc nhất có một câu như:
“Đương sự phạm tội t́nh nghi tiếp tế cho con là tên cán bộ VC .... 2kg gạo vào đêm ngày... tại nhà y. Thiểm Ty chấp cung nhưng đương sự ngoan cố, nhất định không nhận tội. Đề nghị an trí 3 tháng, tái xét”.

Theo Toà Thị Chính th́ những hồ sơ như vậy là không đầy đủ v́ không hề có nhân chứng nào cho nội vụ ngoài lời buộc tội một chiều cuả Cảnh Sát. Nếu Pḥng CS Đặc Biệt không cung cấp được thêm chứng cớ cụ thể nào khác để xuất tŕnh trước Uỷ Ban th́ Uỷ Ban cần phải tha bổng bị cáo để dân chúng khỏi bị tù đầy oan ức do việc Ty Cảnh Sát có thễ đă lạm quyền.
Những lần “thử lửa” liều lĩnh như vậy cuối cùng đă khiến cho Trưởng Ty CS phải mời Trưởng Ty Nội An qua thăm Ty này để nói chuyện “thông cảm” với lời hứa là từ nay Ty CS sẽ cẩn thận hơn, sẽ không ‘báo cáo nhầm lẫn và lập hồ sơ chấp cung... thiếu xót” như trước nữa.

 

Nhờ những cuộc đụng độ toé lửa như trên mà hai “ông Phó Đốc Sự” trẻ tuổi đă được tập thể chỉ huy hành chánh và bán quân sự tại điạ phương chấp nhận vai tṛ của họ.

Trong phần trên tôi có đề cập đến vấn đề dân trí của Đà Lạt để các bạn thấy được mức độ văn minh của thành phố du lịch này. Điều này cũng không giúp ích chi nhiều cho t́nh trạng an ninh của thị xă. Việt Cộng vẫn thỉnh thoảng đột nhập về các khu phố hẻo lánh như Trại Hầm, Đa Thiện,..và đặt chất nổ phá hoại hoặc ám sát viên chức xă ấp. Bọn chúng cũng có lần xâm nhập được ṿng đai an ninh của Trường Vơ Bị nhưng bị phát hiện và bỏ chạy.

Tôi và Thành thoát chết trong gang tấc vào năm 1969. Chúng tôi vừa đi họp ở Tiếu Khu, xe vừa sắêùp vô đến băi đậu xe của Toà Thị Chính th́ Pḥng Quân Vụ bị nổ tung. Ông Trưởng Pḥng Quân Vụ bị tử thương tại chỗ. Nếu chạy xe nhanh hơn chút xiú nữa th́ anh em chúng tôi đă bị nạn rồi. Một lần khác, VC đặt chất nổ tư thất của Trưởng Pḥng Cảnh Sát Đặc Biệt (coi về t́nh báo) ở cạnh Rạp Ngọc Lan trên đường Thành Thái vào giữa ban đêm. Nhà ông Trưởng Pḥng là căn nhà đầu tiên trong dẫy cư xá công chức mà tụi tôi cư ngụ. Nhà tôi cách rạp chỉ có khoảng 50 thước nên khi hai quả bom nổ cách nhau chừng 5 phút, nhà cửa rung rinh, vữa trên trần rớt xuống lả tả. Nhà của Thành th́ gần hơn, chỉ cách căn bị đặt bom có 6 thước nên khi bom nổ, mọi người đang nằm ngủ trên giường (giường sắùt cá nhân của quân đội) bị sức ép văng từ  trên giường xuống đất.

 

May mà anh em chúng tôi ở hiền gặïp lành, không ai mở cửa ra đường sau khi trái bom đầu nổ, chứ nếu không th́ đă bị hại v́ trái bom thứ hai rồi. Tuy nhiên, kỹ thuật đặt bom tàn độc cuả VC đă làm tử thương một số nhân viên cứu hoả và nhân viên y tế cấp cứu.

Như vậy, tuy công tác ở Đà Lạt nhưng anh em chúng tôi cũng chia xẻ với các bạn ở chốn điạ đầu nỗi hiểm nguy không thể ngờ trong một đất nước có chiến tranh.

Đà Lạt với khí hậu lư tưởng, phong cảnh hữu t́nh, thơ mộng và nổi tiếng với các điạ danh quen thuộc như Khu Hoà B́nh, thác Cam Ly, thác Liên Khương, thác Gougat , Hồ Than Thở, Hồ Xuân Hương, Thung Lũng T́nh Yêu (Valée de l’amour) , Đồi Sân Cù, các vườn mận Trại Hầm, Nguyên Tử Lực Cuộc,..dù sao cũng là các økhối nam châm thu hút một số anh em đốc sự 11 lên hưởng tuần trăng mật. V́ thế,  chúng tôi có cơ hội thù tiếp và làm hướng dẫn viên cho các cặp uyên ương mới như Nguyễn Phú Hùng, Phạm Kim Rương, Nguyễn Quang Đạo, Nguyen Phung...

Trở lại với vấn đề công vụ th́ riêng phần tôi, cũng do “máu x́ phé”, lúc nào cũng “tố” được, mà tôi có được chuyện vui hy hữu khi nộp đơn vào chức vụ Phụ tá Kinh tế. Năm 1974, khi Hoa kỳ muốn rút chân ra khỏi Việt Nam nên cắt phần lớn viện trợ quân sự và kinh tế. Để đối phó về mặt kinh tế, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cử Tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo vào chức vụ Phó Thủ tướng đặc trách Phát triển Kinh tế. Phó Thủ tướng Hảo mới ra thông cáo tuyển dụng. Sau khi duyệt xét luận đề về phát triển kinh tế của mỗi người, chúng tôi lại qua cuộc phỏng vấn của ba vị Tổng trưởng Kinh tế, Tài chánh và Công kỹ nghệ.

 

Cuối cùng, Phó Thủ tướng Hảo phỏng vấn lần chót những người được đề nghị tuyển chọn để nh́n chân cẳng. Tôi nhớ trong cuộc phỏng vấn hôm đó, Phó Thủ tướng Hảo đều hỏi mọi người hai câu hỏi giống nhau:
·      Với chức vụ Phụ tá Tỉnh, Thị trưởng đặc trách Phát triển Kinh tế nhưng có toàn quyền quyết định về mọi vấn đề liên quan đến các lănh vực kinh tế, tài chánh, nông, lâm, ngư, nghiệp và chỉ đi thẳng về Trung ương mà không qua Tỉnh, Thị trưởng, các anh nghĩ thế nào về hối lộ?
Trước đây, các vị Tỉnh, Thị trưởng có quyền về các lănh vực trên nên được hưởng lợi. Nay không c̣n được nắm giữ các quyền ấy, có thể các vị Tỉnh, Thị trưởng không giúp đở các anh về mặt an ninh chẳng hạn, th́ các anh phải làm ǵ để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế tại địa phương đó?

Các anh khác cho rằng: V́ lư tưởng nên không thể nhận hối lộ để chôn vùi tương lai của ḿnh hoặc dùng áp lực chính trị để có được sự cộng tác của các vị Tỉnh, Thị trưởng.

Riêng tôi đă dùng khả năng “x́ phé”: tố lại và lật con bài tẩy. Tôi tŕnh bày ư kiến như thế này:

“Thưa Phó Thủ tướng, với lương và phụ cấp chức vụ Phụ tá Hành chánh, mỗi tháng tôi lănh được 75 ngàn đồng. Và để sống vừa đủ xứng đáng với chức vụ đó, tôi phải chi tiêu đến 150 ngàn đồng. Nhưng không phải v́ vậy mà tôi phải dùng phương cách hối lộ để kiếm thêm tiền. Tôi sẽ làm tṛn nhiệm vụ của ḿnh với thủ tục dễ dàng hầu đạt mục tiêu phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong việc cung cấp dịch vụ hành chánh một cách nhanh chóng đó đă đem lợi cho những nhà kinh doanh và họ cám ơn tôi công khai và chính thức một món tiền nào đó. Và tôi nhận. Món quà đó do ḷng biết ơn của họ chứ không do tôi đặt điều kiện trước hoặc làm khó dễ để họ phải đưa tiền.

 

Thưa Phó Thủ tướng, như vậy có phải là hối lộ không v́ chính trong kế hoạch kinh doanh của các thương gia mà Toà Hành Chánh giúp đỡ, tôi  đă yêu cầu họ ghi chú một ngân khoản tưởng thưởng cho các sáng kiến hữu dụng của đệ tam nhân đă giúp cho kế hoạch của họ giảm bớt chi phí và thành công sớm hơn dự kiến ?

Với câu hỏi về sự giao tế với các Tỉnh, Thị trưởng, tôi tŕnh bày:
“Khi tŕnh diện các vị Tỉnh, Thị trưởng tôi sẽ thưa với các vị đó rằng: ‘Thưa Đại tá, tôi được trung ương cử về tỉnh nhà để lo việc phát triển kinh tế, xin Đại tá giúp đỡ tôi thi hành nhiệm vụ. Riêng những quyền lợi nào nếu có trước đây xin Đại tá cứ giữ nguyên.’

Tôi nghĩ rằng với đề nghị đó, vị Tỉnh, Thị trưởng sẽ hết ḷng giúp tôi. V́ trước đây, ông ta phải chịu trách nhiệm mới được hưởng lợi, nay tôi trách nhiệm mà ông ta vẫn được hưởng lợi như trước th́ sao ông ta lại không hết ḿnh giúp tôi?

Sau cuộc phỏng vấn đó, tôi được tuyển và được phép chọn một nhiệm sở. Lần này không do áp lực của gia đ́nh vợ nữa mà do ư tôi. Tôi chọn Ba Xuyên, một tỉnh trù phú của miền Tây rất dễ dàng cho việc phát triển kinh tế. Nhưng định mệnh cũng tiếp tục theo tôi. Nhận Nghị định bổ dụng, tôi phải giữ chức vụ Phụ tá Tỉnh trưởng Phong Dinh kiêm Phụ tá Thị trưởng Cần Thơ thay v́ Tỉnh Ba Xuyên.

Ngạc nhiên v́ không được về nhiệm sở ḿnh mong muốn, lại phải kiêm cả Tỉnh và Thị lớn nhất miền Tây là việc hy hữu, chưa từng xảy ra trong việc bổ dụng Hành chánh. Anh Chánh Văn Pḥng của Phó Thủ Tướng cho biết:
“Ông già chịu câu trả lời của anh, nên mới xếp cho anh về Cần Thơ và Phong Dinh để giúp điều hợp kế hoạch của Miền Tây sau này.”

Đến tháng tư 1975, khả năng “x́ phé” của tôi phải chịu thua tài nghệ “đánh bài bịp bợm” của bọn Cộng Sản nên tôi và hầu hết bạn bè phải vào trại tù của chúng. Nhưng cũng nhờ hơi hướng của Phó Thủ tướng Hảo nên tuy ở tù mà vợ con tôi vẫn được hưởng lương cho đến tháng 11 năm 1975 và tôi chỉ trả giá “học tập” có ba niên thay v́ một bó như các anh em Hành Chánh khác phải ra tận thượng du Bắc Việt.

Từ khi định cư tại Mỹ, với kinh nghiệm “tứ đổ tường” sở trường, mỗi lần ghé Las Vegas, vô các ṣng bài “công tác” tôi cũng  vẫn lấy được chút ít “lợi tức”, đủ trang trải chi phí chuyển vận, tiền pḥng khách sạn, ăn uống và bỏ túi vài chục dollars. Nhưng vừa rồi sau khi xem phim “Cuộc khổ nạn của Chuá Giesu” , cuộn phim đă cho tôi sự xúc động tâm can để đi đến quyết tâm từ bỏ tất cả sự đam mê x́ phé!

Thôi, tôi xin giả biệt mọi sự cám dỗ của bài bạc từ đây và chỉ xin giữ lại măi măi tấm t́nh bạn hữu có nhau lúc cuối đời !

Dalat mo*
dalat.jpg
Đuong lên doi` t́nh yêu

 
Hoa văn thể hiện nét đẹp văn hóa dân tộc
 
Nguyễn Đ́nh Phúc

 

 

 

 

 

Lăng Quốc Tổ

Khi vào các nơi phụng tự như Đ́nh, Miếu, Chùa, ngay cả một số Thánh Đường ngày nay… ngoài những pho tượng, h́nh vẽ thuần túy tôn giáo phổ quát mọi người cũng có dịp thấy những h́nh tượng, hoa văn, trang trí mang tính chất văn hóa đặc thù trên các kiến trúc, cửa ra vào, bàn thờ, hoành phi, câu đối… Bài viết chỉ muốn giới thiệu khái quát về ư nghĩa một số hoa văn trang trí thường thấy với các bạn đọc trẻ để cùng nhau t́m hiểu những nét đẹp văn hóa dân tộc.

Hoa văn thể hiện trên h́nh tượng nhân vật.

Phúc Lộc Thọ tam tiên: rất phổ thông qua tượng, tranh vẽ, thiệp chúc mừng… Ông Thọ qua h́nh cụ già, trán sói, một tay chống gậy, tay kia cầm trái đào. Ông Lộc đội mũ cánh chuồn, có con nai (lộc) đứng kế. Ông Phúc bế trẻ nhỏ, có h́nh con dơi (phức hay phúc) bay quanh. Có người giải thích tam tiên Phúc Lộc Thọ biểu tượng ba nhân vật: Đông Phương Sóc (Thọ) trường thọ v́ vui tánh, được ăn đào tiên của Tây Vương Mẫu, Đậu Vũ Quân (Lộc) vị quan thanh liêm và Quách Tử Nghi (Phúc) suốt đời toàn được điều tốt lành. Nhiều khi đơn giản chỉ cần một h́nh tượng Ông Thọ nhưng có dơi bay (phúc), nai (lộc) tượng trưng đủ Tam Đa.

Bát tiên: qua sách Đông Du Bát Tiên, tám vị cưỡi rồng hay ngồi thuyền đi trị các tà quái ở phương Đông. Mỗi vị là thần bảo hộ một ngành nghề. Lư Thiết Quải, người hành khất thọt chân, chống nạng, mang chiếc bầu, có làn khói thoát ra. Hán Chung Li, cầm quạt đôi khi trái đào. Trương Qua Lăo, cầm một nhạc khí. Tào Quốc Cựu tay cầm sênh (sinh tiền), nhạc cụ, được tôn thần bản mệnh các nghệ sĩ. Lữ Đồng Tân cầm phất trần, vai mang kiếm thần  nghề y dược. Hà Tiên Cô cầm ngó sen, thần bảo hộ gia đ́nh. Lam Thái Ḥa xách giỏ hoa, thần nghề trồng hoa cảnh. Tiên đồng Hàn Tương Tử, thổi sáo, thần các nhạc công.

Ông Lăo giữa bầy trẻ cầm chiếc như ư (1) , hàm ấn và đọc sách: ngụ ư chúc “tam đa”. Lấy từ tích vua Nghiêu đi tuần thú đất Hoa. Quan địa phương phụng chúc: “đa thọ, đa nam, đa phú”. Vua chối từ cho rằng “đa thọ tất đa nhục, đa nam tất đa ưu, đa phú tất đa oán” (sống lâu nhục nhiều, đông con trai lắm lo, quá giầu chuốc thêm oán).

H́nh bé trai nâng cá chép khỏi đầu: biểu trưng “niên niên hữu dư” v́ cá (ngư, gần âm dư là thừa). Cũng từ ư đó, tiệc cưới có món cá mang nghĩa chúc dư (ngư) thừa hạnh phúc. H́nh bé trai cùng xâu cá, xâu tiền: ư chúc “đinh tài lưỡng vượng” (“một của một con”). H́nh năm đứa trẻ tranh nhau chiếc măo lấy từ điển tích họ Đậu đời Tống sinh năm trai tài giỏi, với lời chúc “ngũ tử đoạt khôi nguyên”. 

Hoa văn biểu tượng qua cầm thú.

Tứ Linh: Long (rồng), Ly (kỳ lân), Quy (rùa), Phụng (chim phượng). Tuy là linh vật huyền thoại nhưng nhiều người tin rồng kết hợp cả 36 bộ phận tiêu biểu của các vật tổ các sắc dân cổ thời. Theo nguyên lư âm dương, rồng thuộc dương, biểu trưng cho động, phát triển, thịnh vương (2) .

 

Lân: con đực là kỳ, con cái là lân nên gọi chung là kỳ lân. Kỳ lân đầu rồng, ḿnh móng ngựa, chân hươu… Chỉ xuất hiện vào thời thái b́nh thịnh trị. Theo tục truyền: lân ra đời vào đời Hoàng Đế Hiên Viên và lúc đức Khổng Tử (3) sắp đản sinh. Cuối đời thánh Khổng xuất hiện con lân què điềm xấu chỉ đạo Khổng suy. Lúc đó Khổng Tử liền ngưng viết kinh Xuân Thu, nên từ tích đó gọi kinh Xuân Thu là Lân kinh.

Quy (rùa) theo tích Văn Vương nhà Chu thấy rùa nổi trên sông Lạc, từ đó vẽ ra Bát Quái biến hóa khôn lường. Cuối triều Nguyễn, vua Bảo Đại và nước Đại Hàn cũng lấy ư từ bát quái dùng làm quốc kỳ. Nhiều người vẫn treo Bát Quái trước nhà, cơ sở kinh doanh

.

 Phụng hay Phượng biểu tượng điềm lành: h́nh “lưỡng long triều dương”. “lưỡng long tranh châu” hay “long phúng thủy” (rồng phun nước) hay “long vân” (rồng mây) đều chúc mưa thuận gió ḥa. Loan phụng ḥa minh (trống mái cùng hót) chỉ đôi vợ chồng ḥa hợp, hạnh phúc.

 

Qùi là linh thú, chỉ có một chân. Thường dùng trấn yểm yêu ma tại các đền miếu, bằng cách chạm h́nh chân qùi vào các bàn thờ, hương án hay tại tư gia như chân bàn ghế, sập giường nên gọi là chạm “chân qùi”.

Hổ được coi là chúa sơn lâm, sức mạnh, thần bí. Cửa các đ́nh, miếu h́nh hổ nhiều khi cả rồng “long hổ hội” được đắp trên bức b́nh phong. “Ngũ hổ” là h́nh bùa trấn ngũ hành.

 

Hạc đứng trên mai rùa: rất phổ biến trong các đ́nh miếu, tượng trưng bền vững, trường thọ “quy hạc tề thọ”. Rất nhiều tranh hay hoa văn ngựa với bốn chữ “mă đáo thành công” hay “bách điểu, bách ngư” hay “bách phúc đồ, bách thọ đồ” (trăm chữ phúc, thọ)… Những chữ Phúc, Thọ, Hỉ… thường được thể thức hóa qua nhiều h́nh dáng tṛn, chữ nhật làm hoa văn trên những mỹ thuật phẩm. 

 

Nhân năm Gà (Ất Dậu 2005) xin viết thêm về hoa văn lấy h́nh gà. Gà hán tự là kê, đồng âm “cát” (tốt) (cát tường/tốt lành). Gà mang năm đức: văn (mào đỏ như mũ quan chức), vũ (cựa bén nhọn như gươm), dũng (gặp đối thủ chiến đấu dũng mănh), nhân (có mồi gọi đồng loại đến cùng ăn), tín (gáy đúng thời khắc). Tranh gà gáy (kê minh) biểu tượng sự nổi tiếng, h́nh gà cồ tượng trưng đại cát. Gà mái và bầy con: sung túc.

 

Nước Pháp dùng gà trống làm biểu tượng, thường đặt h́nh gà gáy trên nóc nhà với dấu chỉ bốn phương và coi gà trống là vua của đàn gia cầm (roi de la basse-cour).

 

Hoa văn cá nhẩy trên sóng nước dạng “hồi ba” trước “long môn” hay cá hóa rồng (đầu rồng, đuôi cá) đều cùng ư chúc tụng thăng tiến, đậu đạt. Mèo chữ hán là “miêu”, âm “máo” đồng âm “mạo” chỉ ông lăo 90. Bướm là hồ điệp đồng âm “điệt” chỉ ông lăo 80. Cả hai mèo, bướm tượng trưng đại thọ.

 

 
Hoa văn thể hiện trên hoa cảnh.

Nội Cung Thánh Cung Bảo Ṭa Phát Diệm

Mai, Lan, Cúc, Trúc: biểu tượng xuân hạ thu đông (4) . Thường đi kèm mai-điểu (mai-chim), liên-áp (sen-vịt), cúc-kê (cúc-gà), trúc-tước (trúc-chim sẻ). Đệ nhất Cộng Ḥa dùng cây trúc làm quốc huy, và huy hiệu Tổng Thống với khẩu hiệu “tiết trực tâm hư” (gióng thẳng ḷng không) v́ cây trúc được xem người quân tử (5) , hoa mai cho cấp hiệu sĩ quan.

Hoa sen biểu tượng Phật giáo, thấy nhiều trong kiến trúc, hội họa, hoa văn...

Trái phật thủ: chúc giầu có v́ phật âm “fu” đồng âm “phú” là giầu. Tranh phật thủ, đào, lựu chúc tam đa (giầu, thọ, đông con).

.

Hoa mẫu đơn biểu tượng phú qúy “phú qúy hoa” với ư chúc “măn đường hồng” giống như lan là  “vương giả chi hoa”. Mẫu đơn thường chạm, vẽ với cá ư chúc “phú qúy hữu dư”, hoặc mẫu đơn với chim trĩ, chim phượng.

Trái thị, hoa bách hợp và kim quất:chúc mọi sự đều tốt v́ thị đồng âm “sự”(việc), bách hợp và quất đồng âm “cát”.

Cành nho, con sóc: hoa văn chạm khắc trên các tủ chè (trà), thường bày phía dưới bàn thờ, phía trong sập gụ chân qùi, trường kỷ hay bộ ngựa.

Kèm bài viết, các h́nh chụp Lăng Quốc Tổ, Chùa Keo, nội cung Thánh Cung Bảo Ṭa (nhà thờ Phát Diệm), đều là những công tŕnh điêu khắc, hoa văn, trang trí bằng đường nét văn hóa dân tộc đặc sắc

Một ít hoa văn trang trí thường gặp vừa giới thiệu chắc cũng có bạn đọc thắc mắc đâu có ǵ khác với Trung Hoa, đâu là nét dân tộc? Thật ra, không có nền văn hóa nào hoàn toàn không chịu ảnh hưởng nhiều ít một nền văn hóa khác. Tuy nhiên, khi t́m hiểu sẽ thấy nét cá biệt: chỉ riêng hoa văn về rồng giữa các nhà Lư, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn cũng đă rất khác nhau. Quan niệm cũng không giống: ta cho là chim cú rất xấu, h́nh bóng của tử thần trong khi tây phương coi là tinh khôn. Nhền nhện mang tin vui “tri thù báo hỉ”, khác tây phương gắn liền ma quái… Ví dụ về cách đặt danh xưng triều đại giữa chúng ta và Bắc triều cũng hoàn toàn khác. Chúng ta lấy họ vị vua khai sáng để đặt tên ví dụ Ngô Quyền lập nhà Ngô, Đinh Bộ Lĩnh nhà Đinh, Lư, Trần, Lê, Nguyễn đều như vậy. Trái hẳn với Bắc triều: Lưu Bang lập ra triều (đại) Hán, Tào Phi lập triều Ngụy, Tôn Sách lập triều Ngô, Lưu Bị lập triều Thục Hán, họ Tư-Mă lập ra triều Tấn…Cho nên Nguyễn Trăi trong B́nh Ngô Đại Cáo viết:

“Nước Đại Việt ta,
        
Nền văn hiến cũ,
        
Non nước cơi bờ đă khác,
        
Bắc Nam phong tục đă riêng.
       
Cơ đồ gây dựng trải Triệu, Đinh, Lư, Trần
       
Đế bá tranh hùng cùng Hán, Đường, Nguyên, Tống…”

“Phong tục đă khác” phải chăng chứng minh sự đăi lọc cái hay của người để tạo bản sắc riêng của ḿnh: bản sắc của dân tộc, văn hóa Việt Nam qua năm ngàn năm văn hiến vậy.

 

                                                                       Nguyễn Đ́nh Phúc

 

Ghi chú: 

(1) Chiếc Như Ư: Giống chiếc hốt, các quan văn thường cầm khi vào triều (dùng che miệng khi tâu vua, ghi các mệnh lệnh), được làm bằng ngọc, ngà hay gỗ dài khoảng 3, 40 phân cong h́nh chữ S, một đầu có h́nh mây, nấm linh chi, biểu tượng sự thành đạt. Các vị sư dùng th́ chuôi có chữ “tâm”, trên đó có chữ “để” nhằm ghi nhớ các việc cần làm. Tác dụng nguyên thủy chỉ dùng để găi lưng.

(2) Nghệ nhân tạo chín kiểu rồng tùy loại sản phẩm: trên nắp lư trầm h́nh kim nghê v́ nghê thích khói; tiêu đồ xoắn h́nh ốc, kín đáo gắn trên cánh cửa; thao thiết, mê ăn uống chạm trên nắp đỉnh; bồ lao thích gầm thét, đắp trên quai chuông; đầu ly đặt trên nóc nhà v́ ly thích ḍm ngó; nơi trụ cầu đắp nhập hạ v́ thích nước; sại nhại đắp trên khâu đao v́ hiếu sát; bệ hăn là hổ dữ, vẽ nơi cửa ngục; bị hụy giống như rùa v́ thích đội nặng. 

(3) Đức Khổng Tử (551- 478 B.C): người nước Lỗ, thân phụ là Thúc Lương Ngột, thân mẫu Nhan Thị. Mẹ Ngài cầu tự trên núi Ni Khâu nên khi sinh đặt tên Khâu, tự Trọng Ni. Có sách viết trán Ngài cao nên đặt Khâu v́ khâu là g̣. Có thắc mắc: thân phụ là Thúc Lương Ngột, Ngài phải là Thúc Lương Khâu mới đúng, sao lại Khổng Khâu? Đúng ra thân phụ Ngài là Khổng Ngột, tự Thúc Lương, nhưng các sử gia dùng tên tự (Thúc Lương) đặt trước tên chánh (Ngột) không ghi họ Khổng khiến hậu sinh mất công tra cứu mới rơ.

(4) Văn Chương Việt Nam có một trường hợp rất đặc biệt là tác giả đă dùng các loài hoa để chỉ thời gian ước hẹn giữa chinh phu với người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc:

“Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió,
           
Hỏi ngày về ước nẻo đào bông,
           
Nay đào đă quyến gió đông,
           
Phù dung lại đă bên sông ơ hờ…”

(5) Mạc Đĩnh Chi đi sứ Trung Hoa, vào triều thấy bức thêu cành trúc có mấy con chim sẻ đậu rất sắc sảo, linh hoạt. Mạc Đĩnh Chi tưởng chim thật, chạy tới vồ, triều thần cười ồ chế nhạo. Mạc Đĩnh Chi chữa thẹn bằng cách giựt xé bức thêu. Các quan ngơ ngác, ông nói: trúc tượng trưng bậc quân tử, sẻ là kẻ tiểu nhân, làm sao để tiểu nhân đứng trên quân tử. Điều này trái đạo nên phải xé đi.     

 

 Quy' vi. góp ư & bài  Xin Email duch92003@yahoo.com.